Giá heo hơi giảm mạnh trên cả ba miền, có nơi xuống mức thấp nhất trong gần 2 năm qua; trong khi đó giá tiêu giữ mức ổn định.

Heo hơi rơi chạm mốc 50.000 đồng/kg
Tại miền Bắc, thị trường bất ngờ quay đầu giảm chỉ sau một phiên phục hồi. Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng và Hưng Yên cùng giảm 2.000 đồng/kg, xuống 52.000 đồng/kg. Nhiều địa phương khác như Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Ninh Bình, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Phú Thọ và Sơn La cũng giảm 1.000 đồng/kg.
Sau điều chỉnh, mốc 54.000 đồng/kg không còn xuất hiện tại miền Bắc, giá thu mua trong khu vực chỉ còn khoảng 51.000 – 53.000 đồng/kg.
Áp lực giảm rõ nét hơn tại miền Trung – Tây Nguyên khi 8 địa phương điều chỉnh 1.000 – 2.000 đồng/kg. Đáng chú ý, Đắk Lắk và Khánh Hòa cùng xuống 50.000 đồng/kg, trở thành mức thấp nhất cả nước. Trong khi đó, Lâm Đồng vẫn duy trì 54.000 đồng/kg, tạo ra khoảng cách khá lớn giữa các địa phương trong khu vực.
Tại miền Nam, An Giang và Cần Thơ cùng giảm 2.000 đồng/kg xuống 51.000 đồng/kg. Đồng Tháp, Vĩnh Long và Cà Mau giảm 1.000 đồng/kg; trong đó Đồng Tháp và Vĩnh Long còn 51.000 đồng/kg. Đồng Nai, Tây Ninh và TP Hồ Chí Minh tiếp tục giữ mức 54.000 đồng/kg.

So với cuối tháng 9, giá heo hơi đã giảm khoảng 5.000 đồng/kg. Nếu so với mức cao 78.000 đồng/kg từng xuất hiện tại một số địa phương đầu năm, mức 50.000 đồng/kg hiện nay thấp hơn 28.000 đồng/kg, tương đương gần 36%.
Việc giá đồng loạt giảm trở lại ngay sau tín hiệu phục hồi tại miền Bắc cho thấy thị trường vẫn chịu áp lực lớn. Khi mốc 50.000 đồng/kg đã xuất hiện, khả năng giá tiếp tục dò đáy chưa thể loại trừ nếu sức mua không cải thiện, dù mức giá thấp cũng có thể khiến tốc độ giảm chậm lại trong những phiên tới.
Gạo nguyên liệu tiếp tục tăng
Trái chiều với heo hơi, thị trường gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục ghi nhận một số mặt hàng tăng nhẹ.
Gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 tăng thêm 50 đồng/kg, lên 8.800 – 8.850 đồng/kg. Đây là phiên tăng thứ hai liên tiếp của mặt hàng này. Gạo IR 504 giữ ở mức 8.700 – 8.800 đồng/kg.
Các loại khác ít biến động, với OM 5451 ở mức 9.300 – 9.400 đồng/kg; OM 18 từ 8.700 – 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 đạt 9.200 – 9.400 đồng/kg. OM 380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500 – 7.600 đồng/kg.
Ở nhóm phụ phẩm, tấm thơm tăng 100 đồng/kg, lên 9.050 – 9.300 đồng/kg; cám tăng 50 đồng/kg, đạt 7.900 – 8.200 đồng/kg. Tại thị trường bán lẻ, gạo Jasmine tăng 500 đồng/kg, lên 17.000 – 18.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục ổn định. Gạo trắng 5% tấm được chào bán 420 – 424 USD/tấn, Jasmine ở mức 515 – 519 USD/tấn và gạo thơm 5% tấm đạt 440 – 445 USD/tấn.
Đà tăng của CL 555 cùng tấm và cám cho thấy thị trường gạo nguyên liệu đang cải thiện nhẹ, dù giao dịch tại Đồng bằng sông Cửu Long vẫn chưa sôi động. Giá xuất khẩu đi ngang có thể giúp thị trường giữ ổn định, nhưng chưa tạo lực đẩy đủ mạnh để hình thành một đợt tăng giá trên diện rộng.
Cao su thế giới phân hóa

Sau phiên tăng mạnh, giá cao su thế giới chuyển sang trạng thái phân hóa. Sàn Nhật Bản tiếp tục đi lên, trong khi giá tại Trung Quốc và Singapore đồng loạt điều chỉnh giảm.
Trên sàn TOCOM, cao su RSS3 kỳ hạn tháng 11 tăng 1,39%, lên 452,80 Yên/kg; hợp đồng tháng 12 tăng 1,01%, đạt 454,60 Yên/kg.
Ngược lại, trên sàn SHFE, hợp đồng cao su tự nhiên tháng 11 giảm 0,71% xuống 19.575 Nhân dân tệ/tấn; kỳ hạn tháng 1/2027 giảm 0,90%, còn 20.330 Nhân dân tệ/tấn. Hợp đồng cao su butadiene tháng 11 giảm mạnh hơn 2,53%, xuống 16.180 Nhân dân tệ/tấn.
Tại Singapore, TSR20 tháng 11 giảm 1,66% xuống 261 Cent/kg, trong khi kỳ hạn tháng 12 giảm 1,41%, còn 259 Cent/kg.
Tại Malaysia, cao su tiêu chuẩn SMR 20 giảm 11,5 sen xuống 1.063,5 sen/kg sau khi vừa lên mức cao nhất hơn 14 năm trong phiên trước. Giá mủ latex giao rời lại tăng 4 sen lên 781 sen/kg.
Trong nước, giá thu mua cao su tại các doanh nghiệp lớn tiếp tục ổn định.
Sau nhịp tăng mạnh, sự điều chỉnh trên SHFE, SGX và giá SMR 20 tại Malaysia cho thấy thị trường đang xuất hiện hoạt động điều chỉnh ngắn hạn. Tuy vậy, việc giá tại Nhật Bản tiếp tục tăng khiến xu hướng chung chưa hoàn toàn chuyển sang tiêu cực và thị trường có thể tiếp tục phân hóa trong những phiên tới.
Giá tiêu giữ mốc 140.000 đồng/kg
Giá hồ tiêu trong nước đi ngang sau hai phiên tăng liên tiếp, duy trì trong khoảng 137.500 – 140.000 đồng/kg.

Đắk Nông (Lâm Đồng) tiếp tục dẫn đầu với 140.000 đồng/kg. Đắk Lắk giữ mức 139.000 đồng/kg, Bà Rịa – Vũng Tàu (TP Hồ Chí Minh) đạt 138.000 đồng/kg. Gia Lai và Bình Phước (Đồng Nai) cùng giao dịch ở 137.500 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu bắt đầu phân hóa. Tiêu đen Indonesia giảm 7 USD/tấn xuống 6.827 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia giảm 100 USD/tấn xuống 9.100 USD/tấn. Tiêu đen ASTA 570 của Brazil giữ mức 5.800 USD/tấn.
Giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam vẫn ổn định, với loại 500 g/l ở mức 5.950 USD/tấn và loại 550 g/l đạt 5.995 USD/tấn. Tiêu trắng Việt Nam duy trì 8.450 USD/tấn.
Việc giá trong nước không giảm sau hai phiên đi lên cho thấy mặt bằng 137.500 – 140.000 đồng/kg đang được giữ khá vững. Tuy nhiên, đà giảm của tiêu Indonesia và Malaysia có thể hạn chế dư địa tăng thêm, khiến giá trong nước có khả năng tiếp tục tích lũy quanh vùng hiện tại.
NGUỒN: MARKETTIMES
- Giá Bitcoin ngày 26/08/2026: Bitcoin giảm nhẹ, người chơi đang ‘tham lam cực độ’
- MXV cập nhật mức ký quỹ giao dịch hàng hóa áp dụng từ ngày 12/10/2026
- DẦU CỌ THÔ BMDX
- Nhận định thị trường Nguyên liệu công nghiệp ngày 24/09/2026: Cà phê và ca cao bật tăng, đường được hỗ trợ
- Nhận định Kim loại 21/07/2026: Bạc duy trì đà tăng, đồng và bạch kim khởi sắc
















